Pages

Subscribe:

Thực trạng chất lượng dân số và tỷ số giới tính

       Chỉ số con người tiếp tục gia tăng, nhưng vẫn ở mức thấp so với nhiều nước trong khu Vực và thấp xa so với các nước công nghiệp. Giá trị chỉ số HDI tăng từ 0,688 điểm xếp thứ 108/174 nước trên thế giới (năm 2000) lên 0,733 điếm và xếp thứ 105/177 (năm 2008). Tuổi thọ bình quân của người Việt Nam cũng có bước tiến rõ rệt khi tăng lên đến 73,1 tuổi năm 2008 và dự kiến đạt 75 tuổi vào năm 2020.

     Tình trạng về sức khoẻ bà mẹ, trẻ em được cải thiện đáng kê, nhưng còn ở mức thấp: tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng đầy đủ đạt hơn 95%; tỷ suât chết trẻ em dưới một tuổi giảm từ 31,2 phần nghìn xuống 15 phẩn nghìn trẻ đẻ ra sống (năm 2010). Tỷ lệ suy dinh dường trẻ em dưới năm tuổi giảm từ 33,8% (năm 2000) xuống còn 21,2% (năm 2008), tuy nhiên ở một số vùng còn cao tới 30 – 35% như Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Đáng chú ý, các yếu tố về thể lực con người còn thấp, đặc biệt có tới 6,3% dân số bị tàn tật với các mức độ khác nhau, có 1,5% dân số bị thiểu năng về trí tuệ, không đủ khả năng sinh hoạt và tự nuôi bản thân. Các tố chất về tầm vóc thể lực còn nhiều hạn chế, nhất là chiều cao, cân nặng và sức bền còn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực.


tỷ số giới tính


       Bên cạnh đó, tỷ số giới tính khi sinh có xu hướng tăng mạnh trong giai đoạn 2000-2006; nhất là năm 2008 (112 bé trai/100 bé gái) đó là dấu hiệu của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Đặc biệt, cả nước có chín tỉnh có tỷ số giới tính khi sinh ở mức báo động và rất cao từ 115 đến 128 bé trai/100 bé gái.

        Trong khi đó, nước ta phải đối mặt với việc dân cư phân bổ không đồng đều giữa các vùng. Từ năm 1999 đến năm 2006, hai vùng có tỷ trọng dân số thay đổi đáng kể là Đông Bắc (giảm từ 14,2% xuống 11,1%) và Tây Nguyên (tăng từ 4,0% lên 5,8%). Hai vùng đông dân nhất là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long (43,3% tổng số dân), trong khi diện tích đất chỉ chiếm 16,6% diện tích cả nước. Ngược lại, Tây Bắc và Tây Nguyên là nơi thưa dân nhất (8,9%), nhưng diện tích chiếm hơn một phần bốn lãnh thổ.



Thực trang qui mô và cơ cấu dân số ở Việt Nam

        1. Thực trạng qui mô dân số và tăng trưởng dân số
       Theo báo cáo Tình hình Dân số Thế giới 2010 của Liên Hiệp Quốc dân số Việt Nam 2010 là 89 triệu người và sẽ tăng lên 111,7 triệu người vào năm 2050. Việt Nam hiện đứng thứ 14 trong số những nước đông dân nhất thế giới.

       Quy mô dân số lớn, vẫn tiếp tục tăng về số lượng tuyệt đối, song tốc độ tăng có xu hướng giảm. Dân số năm 2000 là 77,6 triệu người, năm 2008 là 85,122 triệu người, đạt 86 triệu người vào năm 2009 và đạt mục tiêu Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010. Trong 10 năm (2001-2010), dân số Việt Nam tăng thêm 11,2 triệu người, bình quân mỗi năm tăng 1,12 triệu người. Trong 10 năm tới (từ 2011- 2020), bình quân mỗi năm dân số vẫn tăng khoảng một triệu người và sè đạt cực đại ở mức 110-120 triệu người vào giữa thế kỷ 21.

         Mặc dù dân thành thị hiện chiếm 30% tổng dân số ở Việt Nam nhưng lại đang tăng nhanh với tốc độ trung bình 3,4%/năm. Khu vực miền Đông Nam Bộ là nơi có mức đô thị hóa cao nhất.


tăng trưởng dân số


        Đến nay Việt Nam vẫn là quốc gia “đất chật, người đông”, có quy mô dân số rất lớn, mật độ dân số rất cao (260 người trên 1km2, gần gấp đôi Trung Quốc). Theo Tổng cục Thống kê, mật độ dân số ở Việt Nam hiện nay có sự phân bố rất chênh lệch và mức gia tăng không đồng đều. Một số tỉnh như Nam Định, Thanh Hóa… có tỷ lệ tăng dân số không đáng kể vì số lượng lớn người dân di cư vào các tỉnh thành phía Nam để làm ăn sinh sống. Ước tính trong năm 2004-2010 có tới 9,1 triệu người di cư.

2.   Thực trạng cơ cấu dân số

        Việt Nam đang bước vào thời kỳ dân số vàng, tức là tổng số người trong độ tuổi lao động lớn hơn tổng số người phụ thuộc (già và trẻ em), hiện tỷ lệ người trong độ tuổi lao động chiếm hơn 60% dân số, theo phân tích thì bình quân 2 người lao động nuôi 1 người phụ thuộc.

        Trong suốt thời gian dài, dân số nước ta luôn được gọi là “cơ cấu dân số trẻ”; tuổi trung vị cua dân số có chiều hướng tăng từ 18,3 tuổi (năm 1979) lên 25,5 tuổi vào năm 2005, đánh dấu sự kết thúc giai đoạn “cơ cấu dân số trẻ”. Từ năm 2007, dân số bước vào giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” với tỷ lệ dân số phụ thuộc chiếm dưới 50%; dân số trong độ tuổi lao động (15-59 tuổi) tăng nhanh, mỗi năm có 1,4 – 1,6 triệu người bước vào độ tuổi lao động và dự kiến quy mô dân số lao động đạt cực đại vào năm 2020.

       Còn “cơ cấu dân số già” sẽ bắt đầu từ sau năm 2017 do tỷ lệ người già từ 60 tuổi trở lên tăng nhanh, già hóa dân số sẽ là một thách thức lớn mà nước ta sẽ phải đối mặt trong thời gian tới.


Đọc thêm tại : http://giatrikinhtehoc.blogspot.com/2015/07/goi-y-ve-phuong-thuc-kiem-soat-qua.html


Gợi ý về phương thức kiểm soát quá trình di dân

       Liên quan đến chính sách tham gia thị trường lao động quốc tế của các quốc gia đang phát triển, xuất khẩu lao động có thể là một trong những giải pháp tốt góp phần làm dịu áp lực của hiện tượng đô thị hóa va thất nghiệp hiện nay. Bên cạnh đó, việc đưa người lao động ra nước ngoài còn giúp các quốc gia đang phát triển thực hiện từng bước quá trình tiếp cận và chuyên giao công nghệ với thế giới, tiến bộ trong phương thức sản xuất và đôi khi là cả lượng tích lũy ban đầu (thông qua kiều hối). Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp lâu dài khi cấu trúc dân số và lao động thay đổi thuận theo quá trình chuyển đổi dân số nói riêng và quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung.

       Ngoài ra, hiện tượng “chảy máu chất xám” thậm chí mất đi bản sắc dân tộc cũng là những hệ quả không dễ khắc phục trên bình diện quốc gia. Vì vậy, vấn đề với các quốc gia đang phát triển phải lựa chọn được chính sách phù hợp trong từng giai đoạn phát triển, khi nào thì xuất khẩu lao động ra nước ngoài, xuất khẩu những ngành nghề gì, bao nhiêu người và trong khoảng thời gian bao lâu, và khi nào và bằng cách nào thì lại phải thu hút những lao động đó trở về nước làm việc, sinh sống…Đây là những vấn đề khá phức tạp và mỗi quốc gia phải có những cách thức giải quyết khác nhau, phù hợp với đặc điểm riêng của từng quốc gia.

 kiểm soát quá trình di dân


       Kết hợp chặt chẽ các chính sách tác động trực tiếp vào quá trình di dân với các chính sách kiểm soát tăng trưởng dân số tự nhiên để tăng trưởng dân số phát huy được mặt tích cực của nó. Giảm tốc độ tăng trưởng dân số thông qua xóa đói giảm nghèo và giải quyết vấn đề bất bình đẳng song song với các chính sách khác như thực hiện chương trình kế hoạch hóa gia đình và dịch vụ y tế nông thôn. Đây được xem là một trong những giải pháp gián tiếp nhưng lại có ý nghĩa chiến lược để giải quyết triệt để vấn đề việc làm và và quá trình đô thị hóa quá nhanh tại các quốc gia đang phát triển.

       Mặc dù quy mô lực lượng lao động sau đây 2 thập kỷ đã được quyết định bởi tỷ lệ sinh con ngay tại thời điểm này, tuy nhiên tốc độ gia tăng dân số vẫn luôn được xem là có sự tương đồng với tốc độ gia tăng quy mô của lực lượng lao động. Vì vậy cùng với những định hướng chính sách kể trên, những biện pháp liên quan đến dân số như trình bày trong phần trên của chương này vẫn được xem là một trong những giải pháp mang tính chất lâu dài để giải quyết vấn đề việc làm tại các quốc gia đang phát triển, hiện tại và tương lai.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: xoa doi giam ngheo, bất bình đẳng xã hội

Cách thức giảm thiểu quá trình di dân

       Giảm thiểu hiện tượng bóp méo đối với giá cả các nhân tố sản xuất. Loại bỏ các hình thức trợ cấp, bao cấp vốn và ngăn chặn hiện tượng tăng tiền lương quá nhanh tại khu vực thành thị sẽ giúp mở rộng cơ hội việc làm cũng như nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm. Nhưng mức độ và khoảng thời gian mà những chính sách kiểu này phát huy tác dụng trong thực tế lại là một vấn đề không rõ ràng. Ngoài ra, các chính phủ cũng cần phải chắc chắn về mối quan hệ giữa các chính sách này với vấn đề di dân vì điều chỉnh giá cả, bản thân nó, thi chưa đủ để làm thay đổi tình trạng việc làm hiện tại.

      Lựa chọn những công nghệ sử dụng nhiều lao động một cách phù hợp. Một trong những trở ngại chủ yếu để thực hiện thành công các chương trình tạo việc làm trong dài hạn, cả ở khu vực công nghiệp thành thị và nông nghiệp nông thôn, ở các nước nghèo, các nước đang phát triển đó là sự phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào các quốc gia phát triển về công nghệ và máy móc nhập khẩu (đa phần là tiết kiệm lao động).

Con người


       Để giảm bớt sự phụ thuộc này, đòi hỏi nỗ lực của các các quốc gia đang phát triển cũng như sự trợ giúp từ phía các quốc gia phát triển, đặc biệt là trong công tác phát triển các nghiên cứu về công nghệ và khá năng tiếp thu và thích ứng công nghệ của quốc gia đang phát triển. Sự trợ giúp từ phía các quốc gia giàu, quốc gia phát trien thông qua hình thức hồ trợ kỹ thuật và nghiên cứu khoa học tỏ ra đặc biệt có ích trong lĩnh vực này, khi họ nghiền cứu những phương pháp sản xuất chi phí thấp, giá thành hạ, sứ dụng nhiều lao động và phù hợp với điều kiện tại các nước nghèo về cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống, hệ thông tưới tiêu … và cả các dịch vụ cơ bản về giáo dục và sức khoẻ khác.

        Điều chỉnh mối liên hệ trực tiếp giữa giáo dục và việc làm. Hiện tượng thất nghiệp đối với người có trình độ học vấn cao đã đặt ra nhiều dấu hỏi về hệ thống giáo dục tại các quốc gia đang phát triển. Mặc dù những vấn đề liên quan đến giáo dục sẽ được bàn luận chi tiết trong chương 8 nhưng hiện tượng “thừa thầy, thiểu thợ” hoặc ngược lại đang ngày một trở nên phổ biến tại các quốc gia đang phát triển. Nếu hình dung hệ thống đào tạo như những kênh dẫn nước cung cấp nước tưới trên thị trường lao động thì dường như mục tiêu điều chình hiện nay là làm cho hệ thống kênh dẫn này phân bổ đều hơn trên khắp cánh đồng, nghĩa là kênh dẫn phải dài ra và đầu ra phải nhỏ lại, tránh hiện tượng một kênh lớn duy nhất đổ nước ào ạt tại một điểm trên cánh đồng.

        Để thực hiện được việc này, các chính phủ nên đa dạng hóa các tiêu chí tuyển dụng và xác lập hệ thống-lương bổng, chứ không nên chỉ dựa vào học hàm, học vị. Ngoài ra, việc phát triển khu vực nông nghiệp nông thôn, tạo ra những cơ hội kinh tế hấp dẫn trong khu vực này cũng sẽ khiến hệ thống giáo dục có những chuyển biến tích cực trong ngành nghề đào tạo. Hiện nay, nhiều quốc gia đang phát triển đã vận dụng mô hình giáo dục của các nước phương tây, định hướng sinh viên hoạt động trong các ngành nghề hiện đại, có quy mô nhỏ chiếm tới khoảng 20% đến 30% tổng lực lượng lao động. Rất nhiều kiến thức và kỹ năng phục vụ quá trình phát triển hiện nay vẫn chưa được coi trọng đúng mức.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: xoa doi giam ngheo, bất bình đẳng giới là gì

Chính sách kiểm soát quá trình di dân

     Trước hết, cần khẳng định rằng di dân là một hiện tượng tất yếu, mang bản chất của một quá trình phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế thị trường, việc sử dụng những biện pháp có tính chất hành chính, cưỡng chế như hình thành các “rào cản di dân” là những biện pháp bất đắc dĩ, không phù hợp với cơ chế thị trường và những quy luật vận động chung của nền kinh tế.

     Vì vậy, những chính sách tác động vào quá trình di dân, giảm bớt sức ép từ quá trình di dân và đô thị hóa, sẽ hướng tới việc hạn chế những nhân tố có thể gây nên những dòng di dân ồ ạt đồng thời tạo ra những mối liên kết kinh tế ổn định và bền vũng mà không nhất thiết phải có sự di chuyển về mặt địa lý của đại bộ phận dân cư (mối liên kết giữa vùng phát triển và vùng chậm phát triển).


Chính sách kiểm soát


     Trong những thảo luận trên về hiện tượng dân cư di chuyển từ nơi này sang nơi khác, chúng ta có thể nhận thấy tầm ảnh hưởng quan trọng của di dân đối với vấn đề dân số và việc làm, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triến. Để hình thành một chính sách tổng thể cho hiện tương di dân và việc làm, các nhà kinh tế học đồng ý với một số quan điểm tiếp cận chủ yếu sau:

     Thứ nhất, tạo lập sự bình đẳng nhất định về cơ hội kinh tể giữa nông thôn và thành thị. Thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn được xem là một trong những kiều kiện kiên quyết đế giảm tốc quá trình di dân ồ ạt từ nông thôn ra thành thị, qua đó tăng cường khả năng giải quyết hiện tượng thất nghiệp ở cà hai khu vực. Để thực hiện được việc đó, giải pháp định hướng trọng tâm chính là phát triển nông thôn, phát triển sản xuất nông nghiệp (sử dụng các ngành nghề có quy mô nhỏ) và tái định hướng các hoạt động kinh tế và đầu tư xã hội hướng nhiều hơn vào khu vực nông nghiệp và nông thôn.

    Thứ hai, mở rộng các ngành sử dụng nhiều lao động, các ngành có quy mô sản xuất nhỏ. Việc tăng cường sản xuất các ngành hàng đòi hỏi nhiều lao động, tỷ lệ lao động trên một đơn vị đầu ra và tỷ lệ lao động trên vốn lớn sẽ mở ra nhiều cơ hội việc làm mới. Vềcơ bản, nhiệm vụ này có thể được thực hiện theo hai cách: (i) trực tiếp, thông qua các khoản đầu tư và chính sách ưu đãi, khuyến khích của chính phủ, nhất là đối với các hoạt động trên thị trường lao động phi chính thức ở thành thị và (ii) gián tiếp, thông qua việc tái phân phối thu nhập (hiện tại và tương lai) dành cho người nghèo bởi cơ cấu tiêu dùng của họ có nhiều hàng hóa phi nhập khẩu và sử dụng nhiều lao động hơn so với cơ cấu tiêu dùng của những người khá giả.





Đọc thêm tại: